image banner
Nước về dưới thân nêu
Lượt xem: 30
Một dịp đầu năm, dân làng C72 tụ họp đông đủ, cùng nhau chuẩn bị cho lễ cúng máng nước, nghi lễ thiêng li&
anh tin bai

 

Nước về từ lòng núi, vào những ống lồ ô thơm nồng không chỉ là những dòng nước đầu tiên, mà còn là khởi đầu cho niềm tin, lòng biết ơn được cộng đồng gửi gắm tới đất trời và khát vọng về một năm yên lành, đủ đầy.

1. Mưa rỉ rích kéo dài mấy ngày liền, chị Hồ Thị Huệ, trưởng thôn 4 (xã Trà Tập) lo lắng chạy đôn chạy đáo, đốc thúc thanh niên trong làng C72 tìm chặt lồ ô về làm cây nêu. Ở xứ núi này, khoảnh khắc giao mùa tuy đẹp, mà khó chịu vô cùng, bởi mưa nắng thất thường, nóng lạnh đan xen. Rừng lồ ô sau làng C72 liêu xiêu cúi đầu dưới mưa lạnh. “Kiếm cho ra cây lồ ô thẳng tắp làm ngọn nêu, khó lắm em. Mình phải tìm cây suôn nhất, mang về để héo rồi duỗi lại cho thẳng, làm nêu mới đẹp, mới cao được”, chị Huệ nói, rồi dứt khoát cùng mấy trai tráng men lối mòn lên ngọn núi sau làng.

 

 

Hi lâu, đoàn người vác về ba cây lồ ô để già làng lựa chọn làm nêu, cùng mớ lá đùng đình trang trí cổng. Tóp sau lại ôm về những bó lồ ô nhỏ hơn, họ nói để làm máng nước dẫn từ nguồn về chân cây nêu. Cúng máng nước, có hai việc quan trọng phải chuẩn bị chu đáo, và thật sớm, là cây nêu, và máng nước. Phần vì đây là hai bộ phận chính để đón nguồn nước, phần vì làm khá mất thời gian, đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo. Bởi vậy, anh Hồ Văn Diếp cùng năm, sáu người đàn ông tụm lại một góc sân cộng đồng, họ đục đẽo, vặn vẹo đủ hướng cây lồ ô, tuốt tát bóng loáng, không còn một vết lóng nào còn sót lại.

 

 

Xong thân nêu, cả đám lại quay sang khoét lỗ, gỡ bỏ mắt lồ ô, tạo thành một ống dài từ đầu đến ngọn. “Nguồn nước trên kia, chừng hai trăm mét, tốn khoảng 40 cây lồ ô mới đủ dẫn nước về đến đây”, vừa nói, anh Hồ Văn Diếp vừa cặm cụi khoét bỏ mắt cây, mắt thao láo nhìn sang mấy chị em phụ nữ đang thoăn thoắt sâu từng thớ dây cườm. Xong đến đâu, chị em lại đặt ngay ngắn trên bờ rào. Vậy mà Diếp vẫn tỏ vẻ chưa hài lòng, anh nôn vì trời sắp tối, mưa lại trực chờ trút trên đầu, nhưng cây nêu vẫn chưa thành hình.

 

 

Mưa xuống, cả đám trai gái lại kéo nhau vào nhà cộng đồng. Khóm lửa nhỏ đủ sưởi ấm mấy vầng tráng nhăn nhúm vì nương rẫy, những đôi bàn tay run lên vì lạnh, vẫn cố sâu cho xong mấy sợi cườm. Chị Huệ họp bà con, tiếp tục giao việc. “Trong ngày mai phải làm cho xong cây nêu, Diếp chú ý cho anh em làm luôn con đại bàng trong tối ni, rồi rượu cần, coi đếm đủ chum đủ ché chưa – nói xong, chị quay qua phụ nữ, tiếp – Đồ thổ cẩm xã gửi lên, coi kiểm đếm cho đủ hỉ, rồi cồng chiêng, vài nam thôi, còn lại nữ đánh, với đội múa, tập lại cho đều, mưa ni chắc không duyệt, nên phải tập nhiều, cho chắc nhịp”.

 

 

Tôi chăm chú ngồi nghe, liếc thấy anh Diếp, rồi mấy anh, mấy chị khẽ gật đầu, sau mỗi lời nhắc của thôn trưởng. Họ có vẻ rất coi trọng chị Huệ, vì là thôn trưởng, một phần, cũng có lẽ vì tiếng nói của chị rất có uy, chỉ bày đâu ra đó, nên họ tâm phục khẩu phục, và làm. Bên ngoài mưa mỗi lúc thêm nặng hạt, ánh mắt chị Huệ thi thoảng đưa mắt qua cửa sổ, phóng tầm nhìn ra xa tận rừng lô ô, lặng nghe tiếng mưa chát chúa. “Năm ni năm đầu tiên thôn chị làm lễ cúng lớn ri em, mà mưa miết, chị lo quá. Mưa ri bà con các thôn về vất vả, đại biểu lên dự cũng ái ngại. Mà biết răng chừ em, có chi đi nữa cũng phải làm cho bài bản”, chị Huệ trải lòng.

2. Ngày cúng máng nước, mưa vẫn tiếp tục nặng hạt. Sáng sớm, dân các thôn tề tựu đông đủ, họ tham gia nhiều hoạt động đậm bản sắc vùng cao, tuy có phần bất tiện do mưa. Chưa năm nào làng C72 náo nhiệt như năm nay, nhưng chị Huệ vẫn canh cánh nỗi lo mưa lớn, gây khó khăn cho nghi thức cúng máng nước của làng mình. Qua trưa, khi các trò chơi dần đi đến hồi kết, cây nêu mới sừng sững dựng lên góc sân nhà cộng đồng. Trên đó, người ta vẽ đủ họa tiết, họ treo lủng lẳng những sâu cườm, cánh chim, ba ngọn cờ Tổ quốc nhỏ phấp phới trên ngọn, và một chim đại bàng đan bằng sợi lồ ô trông rất uy nghiêm.

 

 

“Chim đại bàng tượng trưng cho may mắn. Ông bà chị ngày xưa kể, mỗi khi dân làng làm lễ cúng máng nước, đều có chim đại bàng bay từ núi Kiếp Cang về dự, chứng kiến. Họ nói là thần núi hóa thành chim để về ban phước cho dân làng. Sau này không thấy chim về nữa, bà con mới làm mô hình để tượng trưng cho chim, bày tỏ lòng thành với thần rừng, thần núi”, đứng cạnh tôi, chị Huệ giải thích cặn kẽ, rồi ra hiệu cho già làng bắt đầu lễ cúng, khi đại biểu đã dự đông đủ, và mưa cũng ngớt dần.

 

 

Hai đĩa trầu cau tem hình sừng trâu, và một đĩa thuốc lá khô đặt ngay ngắn dưới thân nêu. Già làng Hồ Văn Biến tay phải cầm rựa, tay trái cầm ngọn cây lau, mắt nhìn thẳng lên ngọn nêu khẽ khấn vái, rồi chỉ người mang trầu cau đi mời khách. Đâu vào đó, ông lại dẫn đầu một đoàn người, khiêng theo heo đen lên nơi nguồn nước. Trong đám người đi cúng thần, ngoài già làng, còn có hai thanh niên đầu quấn khăn đỏ, mà theo chị Huệ, là tượng trưng cho những bông hoa sặc sở, thu hút thần về nghe lời cầu khấn.

 

 

Giữa thiên nhiên mát lành, dòng suối nhỏ chảy men qua vách đá, đọng tại chiếc hố nhỏ đã được đắp đập sẵn. Ở đó, dân làng cắm mấy rào tre ngăn không cho người ngoài bước vào. Rồi họ tổ chức cúng, ông bà già làng thay nhau đọc những câu khấn của người Xơ Đăng, đại loại mời thần về và cầu mong sức khỏe, may mắn cho dân làng. Chị Huệ, cùng chị Hồ Thị Vệ - em gái chị, cũng đứng đó. Thi thoảng họ bước lên ngang hàng già làng, làm mấy động tác cầu mong sức khỏe. Theo lệnh già làng, thanh niên thịt heo, tiết heo nhuộm đỏ vũng nước, rồi chảy về qua những ống lồ ô. Tiếng hú thất thanh từ nguồn, dưới cây nêu, phụ nữ cầm sẵn ống lồ ô để đón “lộc”.

anh tin bai

 

3. Tôi nghĩ mãi, so với các lễ cúng máng nước của người Ca Dong ở Trà Don xưa (nay là xã Nam Trà My), nhiều phần việc, bài trí hay lễ vật khá tương đồng. Duy chỉ có người Xơ Đăng, phụ nữ mới được lên tận nguồn nước để tham gia lễ cúng, thay vì chỉ toàn đàn ông như đồng bào Ca Dong. “Cái này là do chế độ mẫu hệ của người Xơ Đăng, phải không chị?”, tôi hỏi, vì liên tưởng đến cuộc họp dân hôm trước, chị Huệ nói gì, đàn ông trong làng cũng răm rắp nghe theo. “Không em, người Xơ Đăng bọn chỉ vẫn coi trọng đàn ông hơn, mọi việc đàn ông đều làm chủ, thần rừng cũng chỉ coi trọng nếu đàn ông đứng ra cúng. Còn phụ nữ lên nguồn vì quan niệm phải có nam, có nữ thì mới có gia đình đầy đủ, mới hạnh phúc - chị khẳng định – Em thấy có ba người phụ nữ đó, là tượng trưng cho kiềng ba chân, phụ nữ phải chăm lo cho gia đình, thì hạnh phúc mới bền vững”.

 

 

Tôi ngạc nhiên, vì coi như người Xơ Đăng đã quan niệm về bình đẳng giới rất sớm. Nhưng cái hay của họ, là biết cân bằng cuộc sống, biết phân định rõ vai trò của phụ nữ và đàn ông, dù phần nhiều thời gian lễ hội, chị Huệ, chị Vệ vẫn rất xông xáo, kể cả việc đi chặt lồ ô, điều kiêng kị ở một số nơi khi chuẩn bị lễ cúng máng nước. “Lúc cúng ở nguồn nước, bà già làng cầu xin cho con cháu, gia đình có lúa có thóc đầy bồ, chăn nuôi phát triển, cuộc sống ấm no. Còn ông già làng đại diện cho cộng đồng đứng ra khấn nguyện cho toàn thể dân làng làm ăn phát đạt, con cháu đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, không gặp điều xui rủi, dù đi đâu cũng luôn nhớ về nguồn cội”, chị Huệ giải thích thêm.

anh tin bai

 

 

Tiếng cồng chiêng vang lên, chị Huệ cầm trống tươi cười rạng rỡ, vang lên tiếng “hú” quen thuộc mỗi lần đội cồng chiêng thôn 4 biểu diễn, để cảm ơn thần linh, cảm ơn dân các làng về chung vui. Sau chị là đội cồng chiêng, và nhóm múa, với một em nhỏ mặc váy thổ cẩm, nhảy múa theo các cô, các chị rất thuần thục. Đến đây, tôi sực nhớ là mưa đã tạnh hẳn, kể từ lúc già làng bắt đầu lễ cúng ở cây nêu. “Anh tổ chức bốn năm, năm nào cũng mưa, duy chỉ lúc diễn ra lễ cúng là trời tạnh”, một cán bộ xã nói. Dù là trùng hợp, hay vì lý do gì, thì đó cũng xem như là điều may mắn với cộng đồng làng, là sự trọn vẹn của một niềm tin mãnh liệt vào đất trời được phúc đáp.

 

Thư viện ảnh
Thư viện video
Hướng dẫn tích hợp Bảo hiểm Y tế lên VneiD.
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1